I. Mở bài 
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989), là nhà văn lớn của văn xuôi Việt Nam hiện đại, là cây bút xuất sắc của nền văn học sử thi thời kháng chiến chống Mĩ, từ sau năm 1975, NMC lại là một trong số “những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất” của văn học Việt Nam thời kì đổi mới (Nguyễn Ngọc).
Sáng tác của NMC đã phản ánh khá trung thành quá trình vận động phát triển cuả văn xuôi VN đương đại trong một vài thập kỉ trước và sau thời kì 1975. Theo NCM, sau chiến tranh, các nhà văn VN đã chuyển từ “cuộc chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc” sang “chuộc chiến đấu cho quyền sống của từng con người”. Từ những tác phẩm mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn như: Mảnh trăng cuối rừng, Dấu chân người lính… ca ngợi những hiện tượng nhân vật đẹp đẽ, cao cả, thánh thiện như được bao bọc trong “một bầu không khí vô trùng” (I.Nikulin); sau 1975, NMC đã hướng sự quan tâm của mình tới con người trong cuộc sống đời tư – thế sự, thể hiện sự cảm thông và tình thương sâu sắc với số phận con người trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn, trong hành trình kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.
“Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện thuộc giai đoạn sáng tác thứ hai của NMC, lúc đầu được in trong tập “Bến quê” sau được NCM lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1957). Trong tác phẩm, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài – người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh cao thượng mà khiến khi gấp trang sách lại ta không thể nào quên.
II. Thân bài
1. Sự thấy hiểu, xót thương và lo âu cho tình trạng sống tăm tối và số phận bất hạnh của con người.
Nỗi xót xa cho nhân vật đã thể hiện ngay trong những đường nét miêu tả đầu tiên về ngoại hình, dáng vẻ, cử chỉ, thái độ. Người đàn bà hàng chài “trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch…rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như buồn ngủ”. Đây chính là hình ảnh một người lao động lam lũ và đau khổ. Có lé gánh nặng của cuộc mưu sinh đầy sóng gió trên biển cả đã lấy đi của chị tất cả sinh lực và niềm vui. Trên “gương mặt mệt mỏi, tái ngắt ấy” dường như còn không mảy may chút sức sống. Sự nghèo khổ, nhọc nhằn đến mức nhếch nhác, thảm hại còn hiện rõ trong “tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng” vì khi rời khỏi thuyền “phải lội qua quãng bờ phá nước ngập đến quá đầu gối”.
Sự khốn khổ của chị còn hiện ra trong dáng vẻ “lúng túng, sợ sệt” ở toà án huyện, thậm chí khi Đẩu phải mời tới lần thứ hai chị “mới dám rón rén đến ngồi ghét vào mép chiếc ghết và cố thu người lại” – hình như đó là dáng vẻ của một con người tội nghiệp luôn thấy sự có mặt của mình trong cuộc đời này là phi lí, luôn mặc cảm và muốn giảm thiểu sự vướng víu, phiền phức mà mình có thể gây ra cho mọi người.
Ấn tượng lớn nhất về sự bất hạnh mà người đàn bà đưa đến cho người đọc chính là thái độ cam chịu, nhẫn nhục của chị.
· Khi đi qua bãi xe tăng hỏng, trước lúc đến bên chiếc xe rà phá mìn, chị “đứng lại ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước, chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ đang gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống đưa cặp mắt nhìn xuống chân”. Có thể nhận thấy đây là nơi quá quen thuộc với chị, sự quen thuộc ghê sợ, khủng khiếp bởi những trận đòn đã thành lệ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận năng” của người chồng vũ phu, thô bạo. Vì thế nên dù đã chấp nhận, chị không nén nổi cay đắng – cử chỉ của chị như muốn tìm đâu đó sự thay đổi hay trì hoãn dù chỉ một thoảng, nhưng rồi cũng chị cũng hiểu rằng đó là điều không thể, cánh tay chị “buông thõng” chán chường, cặp mắt nhìn xuóng chân cam chịu và mệt mỏi.
· Khi bị chồng đánh dã man, người đàn bà chịu đòn với “một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả cũng không tìm cách trốn chạy”. Đó là thái độ của một người đang thực hiện những nghĩa vụ cực khổ của mình – không cán thán, bất bình nhay tránh né.
Sau này, qua câu chuyện của chị với Đẩu, Phùng, người đọc càng xót xa hơn cho thân phận con người khốn khổ ấy khi hiểu nguyên nhân thái độ cam chịu, nhẫn nhục tới kì lạ của chị. Chị chấp nhận chịu đòn, tất nhiên không phải vì dạn đòn , càng không phải để trả giá cho những tội lỗi sai lầm của mình, cũng không phải vì quá dốt nát đến mức không còn chút ý thức về bất hạnh; về quyền sống như một con người – chị lặng lẽ chịu đựng những đau đớn vể cả thể xác và tinh thần chỉ vì “bất kể lúc nào lão thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu … Giá mà lão uống rượu … thì tôi còn đỡ khổ …Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được lão .. đưa tôi lên bờ mà đánh…” Vậy là cùng một lúc, người đàn bà hàng chài không chỉ chịu đựng những vất vả, nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh mà còn phải gánh vác thêm những u uất, khổ sở của người chồng khi lão không còn đủ sức để chịu đựng một mình.
Người đàn bà hàng chài không chỉ bị hành hạ về thể xác với những trận đòn tàn bạo của người chồng vũ phu àm còn giày vò nặng nề về tinh thần bởi sự nhục nhã khi bị đối xử như một con vật; bởi luôn nơm nớp lo sợ con cái bị tổn thương, bởi sự đau khổ khi luôn phải chứng kiến đứa con trai vì quá thương mẹ mà căm ghét đánh lại bố. Miêu tả hình ảnh một người mẹ vừa khóc, vừa phải “chắp tay vái lấy vái để đứa con” để nó đừng phạm phải một tội ác trái với luân thường đạo lí, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sự xót thương cho nỗi đau khổ cùng cực mà con người có thể chịu đựng.
Người đàn bà đã không trốn chạy khi bị chồng đánh đập dã man trên bờ biển . Chị càng không có ý định tự giải thoát mình khỏi người chồng tàn bạo ấy. Sự chịu đựng của chị không phải chỉ trong một, hai lần chịu đòn mà kéo dào trong suốt cả cuộc đời. Chị khẩn thiết van xin không phải li hô dù biết rằng những trận đòn cũng sẽ tiếp diễn với cuộc sống ấy, bên người chồng ấy. Hình ảnh người đàn bà “chắp tay vái lia lịa quí toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó” cho thấy sự cay đắng trong số phận con người – giữa các lựa chọn, chị chấp nhận chịu đựng những đầy ải , những đòn roi của chồng “vì nỗi vất vả của người đàn bà trên một con thuyền không có đàn ông” còn đáng sợ hơn cả đòn roi đầy ải; cuộc mưu sinh trên biển cả luôn tiềm ẩn những đe doạ thậm chí còn khủng khiếp hơn cả những đau đớn về thể xác, tinh thần do người chồng mang đến. Nếu “tiếng thở dài” đầy chua chát của Đẩu đã gợi ra rất cả những bất lực của thiện chí, những bế tắc của kiếp người. 
Câu chuyện của người đàn bà hàng chài giúp người đọc hiểu ra nỗi bất hạnh lớn nhất trong cuộc sống của gia đình chị chính là tình trạng đói nghèo, là đời sống bấp bênh kéo dào trên mặt biển gây ra tâm lí bế tắc, u uất. Trước năm 1975, mỗi khi biển động “cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối”, từ khi Cách Mạng về, cuộc sống của họ đỡ đói khổ hơn nhưng nỗi lo cơm áo chưa lúc nào buông tha. Cuộc sống của những người ngư dân trên biển hoá ra không hề thơ mộng, lãng mạn như bức tranh trong thời xưa về hình ảnh “thuyền ngư phủ lạc trong sương” (Xuân Diệu) mà vất vả, lam lũ vì gánh nặng mưu sinh, bế tắc cùng quẫn vì hơn chục con người chen chúc trên một chiếc thuyền chật chội, tăm tối, nhục nhã vì tình trạng thất học và bạo lực nặng nề…Đề bi kịch thương ngày của người đàn bà hàng chài diễn ra sau những bãi xe tăng đổ nát của chiến trường xưa, có lẽ NMC muốn gợi ra cho người đọc những lo âu, suy ngẫm: Cuộc chiến đấu chống lại đói nghèo, tăm tối và bạo lực còn gian nan, lâu dài hơn cả cuộc chiến đấu chống ngoại sâm. Chừng nào chưa thoát khỏi đói nghèo thì chừng đó con người còn phải sống chung với cái xấu, cái ác. Chúng đã đổ xương máu bao nhiêu năm qua để giành được độc lập, tự do trong “cuộc chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc”, cho quyền sống của từng con người, để đem lại cơm cơm ăn áo mặc và ánh sáng văn hóa đến cho biết bao con người vẫn đang chìm đắm trong kiếp sống tăm tối, đói nghèo.
2. Qua nhân vật người đàn bà hàng chài đau khổ và bất hạnh, nhà văn còn muốn bộc lộ niềm tin yêu và vẻ đẹp trong tâm hồn, tích cách con người.
Chính nguyên nhân của thái độ cam chịu nhẫn nhục khi người đàn bà triền miên chịu đựng những trận đòn của chồng đã khiến người đọc nhận ra vẻ đẹp trong tầm hồn, tính cách của chị.
2.1 Sự sâu sắc của một con người từng trải
Nói chuyện với Đẩu và Phùng, người đàn bà làng chài quê mùa thất học có “con mắt như đang nhìn suốt cuộc đời mình”,có “sự thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời”, đã khiến các anh trở nên nông nổi, ngây thơ. Những sự giận giữ, bất bình, thấm đẫm lòng nhân hậu, những lời khuyên đầy thiện chí, những giải pháp tưởng như đúng đắn: “Cả nước này không có người chồng nào như hắn…chị không sống nổi với lão đàn ông vũ phu ấy đâu” đều lần lượt vấp phải những lí lẽ bình dị, nghiệt ngã và không thể thay đổi của hiện thực cuộc sống. Chị chỉ rõ sự thiếu thực tế của họ “lòng các chú tốt nhưng các đâu có phải là người làm ăn cho nên các chú đâu hiểu được cái việc của người làm ăn lam lũ khó nhọc”. Chị cũng cho họ thấy dự khó khăn gấp bội của những người đàn bà trong cuộc sống bấp bênh và luôn tiềm ẩn những đe doạ bất thường trên mặt biển: “Các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông”…”đàn bà hàng chài chúg tôi cần có một người đàn ông để chèo chống khi phong ba để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con”…Chị còn giúp Đẩu và Phùng nhận ra tình trạng luẩn quẩn bế tắc trong cuộc sống của một ngư dân trên biển: Ở thuỳen thì bực bộc, bức bối nhưng lên bờ thị lại phải bỏ nghề mà sự phụ thuộc của họ lại gắn chặt với nghề này vì vậy những chính sách của Nhà nước nhiều khi cũng trở nên bất cập với thực tế cuộc sống của họ: “làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có làm được cái thuyền lưới vó. Từ ngày CM về, CM đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở vì không bỏ nghề được!“. Trước kết luận chua chát của Đẩu về cái nghịch lí xót xa: “Trên thuyền phải có một người đàn ông dù hắn man rợ tàn bạo”, người đàn bà sông nước có một lời đáp thật sâu sắc, chân tình mà thắt vào lòng người đọc bởi những chiêm nghiệm rút ra từ một cuộc đời gian truân vất vả: “Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú!”, tiếng thở dài của Đẩu, câu hỏi băn khoăn, tò mò của Phùng, cảm giác bất lực của cả hai người khi nhận ra những giải pháp xuất phát từ lòng tốt và thiện chí của họ trở nên phi thực tế … đã tạo ra sự đối sánh với người đàn bà từng trải hiểu đời, hiểu người, hiểu những sự có thể và không thể của cuộc sống đời thường. Sự sâu sắc cảu chị chiến người đọc khâm phục nhưng cũng xót thương hơn cho một kiếp người.
2.2 Qua câu chuyện đau lòng của cuộc sống bi kịch con người, NMC đã thể hiện niềm trân trọng sâu sắc và tấm lòng bao dung của con người.
Chị chịu đựng những trận đòng tàn nhẫn của chồng không chỉ vì bản tính nhẫn nhục cam chịu mà con như một cách giúp lão làm vơi đi những u uất, khổ sở chất chứa trong lòng. Chính vì thế, mà chị hoàn toàn tự nguyện, lặng lẽ theo chồng lên bờ, lặng lẽ đi vào sâu phía sau bãi xe tăng , lặng lẽ đứng lại chờ trận đòn giận dữ như lửa của chồng, lặng lẽ chịu đòn “không hề kêu một tiếg, không chống trả cũng không tìm cách trốn chạy”, để rồi sau đó đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng đuổi theo gã đàn ông. Cả hai người trở về thuyền, đó là cách cư xử của một người đang cố gắng thể hiện những bổn phận, nghĩa vụ của mình dù đó là những bổn phận, nghĩa vụ phi nhân tính. Chị thấu hiểu nỗi khổ của chồng, thậm chí còn mang một mặc cảm có lỗi khi cho rằng “lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá mà thuyền lại chật”. Người vợ hiểu rõ nỗi hi sinh, nhọc nhằn trên mặt biển đầy sóng gió, sự nghèo đói, túng quẫn trên một con thuyền chật chột, những cay đắng bế tắc triền miên đã vượt khỏi giới hạn chịu đựng của con người khiến “Anh con trai cục tính nhưng hiền lành”không bao giờ đánh đập vợ đã dần trở thành lão chồng vũ phu, độc ác không phải vì thù ghét gì người vợ khốn khổ, lão đánh vợ như người khác uống rượu cho quên nguôi nỗi cơ cực của mình. Nếu cả Đẩu và Phùng đều kinh ngạc và bất bình thay cho sự cam chịu, nhẫn nhục của người vợ thì khi hiểu ra nguyên nhân của thái độ ấy họ lại càng kinh ngạc về sự nhân hậu vị tha trong tấm lòng người đàn bà hàng chài cũng lớn lao kì lạ bởi mức “không thể nào hiểu được” – cảm động nhất là vẻ đẹp của tình mẫu tử trong trái tim người đàn bà hàng chài.
· Tình mẫu tử được chị coi như một thiên tính dương nhiên nhiên của người phụ nữ: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”.
· Chính tình thương yêu sâu sắc với con cái đã khiến chị phải nhẫn nhục, chịu đựng đầy ải tàn nhẫn của người chồng để con thuyền có đàn ông khoẻ mạnh, biết nghề cùng mình “chèo chống khi phong ba” để cùng làm ăn nuôi nấng con cái, cũng vì thương con sợ các con bị tổn thương vì cảnh bạo lực đau lòng mà chị phải xin chồng đưa mình lên bờ mà đánh; rồi vì lo những phản ứng dữ dội của thằng Phác, “Sao thằng bé có thể làm những điều dại dột với ba nó”, mà chị phải cắn răng gửi thằng con chị yêu thương nhất lên rừng sống với ông ngoại. Ở người đàn bà thầm lặng ấy “tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời hình như cũng chẳng bao giừo để lộ rõ rệt ra bên ngoài”.
· Khi bị chồng đánh đập tàn nhẫn, chị đã lặng lẽ chịu đựng như một người câm, vậy mà khi thằng Phác lao tới đánh bố để cứu mẹ, chị lại không nén nổi nỗi đau đớn. Chị “mếu máo” gọi con, “ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để rồi ôm chầm lấy”. Thằng bé đã từng “như một viên đạn bắn vào tâm hồn người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà , làm rỏ xuóng những dòng nước mắt”. Tới khi nói chuyên vơí Đ và P, nhắc tới thằng Phác, chị vẫn khóc – tiếng khóc của tình thương con nỗi đau đớn quặn thắt trong trái tim người mẹ: nỗi đau khi không che chắn nổi cho tuổi thơ các con được trong sáng, đau thêm nỗi đau của các con khi phải chứng kiến cảnh bạo lực gia đình, càng đau hơn bởi nỗi sợ hãi cho sự phát triển tính cách của con trong môi trường tăm tối, bạo lực…, bao trùm lên tất cả là nỗi đau của người mẹ yêu thương con, mong con khôn lớn mà lại không thể đem đến cho con cuộc sống no ấm, bình yên.
· Tình mẫu của chị không chỉ được thể hiện qua nước mắt mà còn thể hiện ra qua niềm vui vùi dẫu hiếm hoi, ít ỏi – những niềm vui chắt ra từ những cay đắng, nhọc nhằn…Khi chắc tới những lúc vợ chồng con cái sống hoà thuận trên thuyền,“khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười”. Cam chịu, nhẫn nhục vì con, lam lũ vất cả vì con, cho nên riêg niềm vui của chị cũng xuất phát từ con cái, chị bày tỏ chân thành, cảm động: “vui sướng nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Thấp thoáng trong hình ảnh người đàn bà hàng chài là bóng dáng của những người phụ nữ VN nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.
Nhân vật người đàn bà hàng chài còn đem đến cho người đọc những ấn tượng thật đặc biệt. Luôn ý thức sâu sắc về thân phận, về ý nghĩa cuộc sống, về thiên chức cảu mình, đó là những nguyên nhân khiến chị có thể chịu đựng tất cả những lúc khó khăn, thử thách, từ những lam lũ, vất vả của đói nghèo đến những đau đớn khổ ải trong bi kịch gia đình, lấy sự chịu đựng phi thường của mình, cố gắng che chở cho sự bình yên của gia đình, bảo vệ niềm tin trong trẻo, ngây thơ ấy cho tâm hồn con trẻ, gánh đỡ cho chòng những nhọc nhằn, cay dắng – dù những cố gắng ấy vẫn luôn thất bại ê chề trước sự khắc nghiệt của cuộc sống. Mỗi khi nhìn lại bức ảnh về “Chiếc thuyền ngoài xa”, bao giờ nghệ sĩ Phùng “cũng thấy người đàn bà bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giẫm trên mặt đất chắc chắn, hoà lẫn trong đám đông…”. Đó là hình ảnh những con người vô danh, khốn khổ, lầm lũi, họ đã vượt lên tất cả những gian truân cay đắng của cuộc đời, không phải vì mình mà vì những người thân yêu – lí do để họ sống và chịu đựng, cũng là cội nguồn sức mạnh của họ.
III. Kết bài
Qua những nét khắc hoạ ấn tượng, người đàn bà hàng chài đã trở thành một biểu tượng đầy ám ảnh, giúp nhà văn NMC thể hiện những tư tưởng đạo lí sâu sắc cho truyện ngắn. Đó là niềm cảm thương và nỗi lo âu cho số phận những con người bất hạnh, khốn khổ, bị cầm tù giữa đói nghèo tăm tối và bạo lực; đó còn là niềm tin yêu trước những phẩm chất tôt đẹp trong tâm hồn, tính cách những con người luôn sống với lòng nhan hậu vị tha và dũng cảm. 
Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số truyện đặc biệt thành công của văn xuôi VN thời đổi mới. Tác phẩm cho thấy “mối quan hệ hoài thường thực” của nhà văn NMC và số phận con người trong cuộc sống đời tư – thế sự, niềm khao khát “tìm kiếm tôn vinh vẻ đẹp con người”, những khắc khoải lo âu trước cái xấu, cái ác… tác phẩm cũng đồng thời thể hiện vẻ đẹp của nghệ thuật văn xuôi NMC với lối văn giản dị và thấm thía, nhiều dư vị, nhiều trải nghiệm thâm trầm qua những triết lí nhân sinh sâu sắc.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: